Tài chính

Tìm hiểu điểm giống và khác nhau của Kế toán quản trị với Kế toán tài chính 2018

Kế toán tài chính và Kế toán quản trị là hai bộ phận không thể tách rời của hệ thống kế toán. Trong mối liên hệ tương quan lẫn nhau, hai bộ phận này hỗ trợ, cung cấp và bổ sung thông tin lẫn nhau.

Sơ đồ Mối quan hệ giữa kế toán quản trị và kê toán tài chính

Thông tin của Kế toán tài chính là một trong những nguồn cung cấp thông tin cho kế toán quản trị. Thông tin kế toán quản trị là nguồn thông tin chủ yếu giúp nhà quản trị ra quyết định, điều hành và kiểm soát các hoạt động trong một doanh nghiệp. Các hoạt động phát sinh là nguồn thông tin đầu vào được kế toán tài chính ghi nhận, tiếp tục thông tin cho kế toán quản trị. Cứ như vậy, thông tin kế toán tài chính và kết toán quản trị đan xen, ràng buộc lẫn nhau và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Do thuộc cùng một hệ thống cung cấp thông tin, kế toán quản trị và kế toán tài chính có những điểm tương đồng nhưng mục đích sử dụng khác nhau nên đồng thời cũng có nhiều điểm khác biệt.

Bài viết tổng hợp từ 1 bài luận văn từ trang dịch vụ Nhận làm luận văn 

1. Điểm giống nhau giữa Kế toán quản trị và Kế toán tài chính

•        Kế toán quản trị và Kế toán tài chính đều đề cập đến các sự kiện kinh tế trong doanh nghiệp và đều quan tâm đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn sở hữu, doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động và quá trình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. Một bên phản ánh tổng quát và một bên phản ánh chi tiết, tỉ mỉ của các vấn đề đó.

•        Kế toán quản trị và Kế toán tài chính đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán. Hệ thống ghi chép ban đầu là cơ sở để Kế toán tài chính soạn thảo các báo cáo tài chính định kỳ, cung cấp cho các đối tượng ở bên ngoài. Đối với Kế toán quản trị, hệ thống đó cũng là cơ sở để vận dụng, xử lý nhằm tạo ra các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định của các nhà quản trị. Kế toán quản trị sử dụng rộng rãi các ghi chép hàng ngày của Kế toán tài chính, mặc dù có triển khai và tăng thêm số liệu cũng như nội dung của các thông tin đó.

•        Kế toán quản trị và Kế toán tài chính đều biểu hiện trách nhiệm của người quản lý. Kế toán tài chính biểu hiện trách nhiệm của người quản lý cao cấp, chú trọng đến trách nhiệm điều hành chung với toàn bộ tổ chức; còn Kế toán quản trị biểu hiện trách nhiệm của các nhà quản lý các cấp trên trong doanh nghiệp. Nói cách khác, Kế toán tài chính hay Kế toán quản trị đều là công cụ quản lý doanh nghiệp.

Xem thêm:

2. Sự khác nhau giữa Kế toán quản trị và kế toán tài chính.

Bên cạnh những đặc điểm cơ bản giống nhau, Kế toán quản trị và kế toán tài chính có nhiều khác biệt do có phạm vi cung cấp và đối tượng phục vụ thông tin khác nhau.

     Về đối tượng sử dụng thông tin:

Đối tượng sử dụng thông tin của Kế toán quản trị là các thành viên bên trong doanh nghiệp (các chủ sở hữu, Ban giám đốc, quản lý viên, giám sát viên, các quản đốc…). Trong khi đó, thông tin của Kế toán tài chính chủ yếu lại cung cấp cho các đối tượng ở bên ngoài doanh nghiệp như các cổ đông, người cho vay, khách hàng, nhà cung cấp và chính phủ (cơ quan thuế, cơ quan quản lý tài chính…).

     Về nguyên tắc trình bày và cung cấp thông tin:

Thông tin Kế toán tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ hiện hành về kế toán của từng quốc gia, kể cả các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về kế toán được các quốc gia công nhận. Do vậy, về cơ bản, các báo cáo Kế toán tài chính của các tổ chức khác nhau có thể so sánh được với nhau.

Trái lại, trong nền kinh tế thị trường, do yêu cầu phải nhạy bén và nắm bắt nhanh các cơ hội kinh doanh đa dạng nên thông tin Kế toán quản trị cần linh hoạt, nhanh chóng và thích hợp với từng quyết định cụ thể của người quản lý, không buộc phải tuân thủ các nguyên tắc chuẩn mực kế toán chung, không có các nguyên tắc bắt buộc đối với cách chúng được soạn thảo hay trình bày. Các quy định của Nhà nước về Kế toán quản trị (nếu có) cũng chỉ mang tính chất hướng dẫn. Mỗi tổ chức có thể thiết kế phương pháp Kế toán quản trị và hình thức báo cáo của riêng mình.

     Về tính pháp lý của kế toán:

Kế toán tài chính có tính pháp lệnh, nghĩa là hệ thống sổ, ghi chép, trình bày và cung cấp thông tin của kế toán tài chính đều phải tuân theo các quy định thống nhất nếu muốn được thừa nhận.

Ngược lại, tổ chức công tác quản trị lại mang tính nội bộ, thuộc thẩm quyền của từng doanh nghiệp phù hợp với đặc thù quản lý, yêu cầu quản lý, điều kiện và khả năng quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp.

     Về đặc điểm của thông tin:

–        Thông tin của Kế toán tài chính chủ yếu dưới hình thức giá trị (có bản chất tiền tệ). Thông tin của Kế toán quản trị không chỉ là các thông tin về giá trị mà còn bao gồm các thông tin khác – phi tiền tệ (hiện vật, thời gian, lao động…)

–        Thông tin của Kế toán tài chính là thông tin thực hiện về những nghiệp vụ đã phát sinh, xảy ra trong quá khứ. Trong khi đó, thông tin của Kế toán quản trị chủ yếu đặt trọng tâm cho tương lai (kế hoạch, dự toán…) vì phần lớn nhiệm vụ của nhà quản trị là lựa chọn phương án, đề án cho một sự kiện hoặc một quá trình chưa xảy ra.

–        Thông tin Kế toán tài chính chủ yếu là các thông tin kế toán dạng dữ liệu được thu thập từ các chứng từ ban đầu về kế toán. Bên cạnh đó, Kế toán quản trị thu thập thông tin nhằm phục vụ cho chức năng ra quyết định của nhà quản lý và thường không có sẵn, nên ngoài việc dựa vào hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán, Kế toán quản trị còn phải lấy thông tin từ nhiều nguồn khác nhau kết hợp với nhiều ngành khoa học như thống kê, hoạch toán nghiệp vụ, kinh tế học, quản lý để tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin thành dạng có thể sử dụng được.

     Về hình thức báo cáo sử dụng:

–        Báo cáo được sử dụng trong Kế toán tài chính là các báo cáo kế toán tổng hợp (gọi là các Báo cáo tài chính) phản ánh tổng quát tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ khi kết thúc niên độ (gồm Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh BCTC).

–        Báo cáo của Kế toán quản trị đi sâu vào từng bộ phận, từng khâu công việc của doanh nghiệp (như báo cáo chi phí sản xuất và giá thành, báo cáo nợ phải trả, báo cáo nhập xuất và tồn kho của hàng tồn kho…). Kết toán quản trị kết hợp số liệu lịch sử ( đã phát sinh), thực hiện ước tính và dự báo về các sự kiện trong tương lai.

     Về kỳ báo cáo:

Kỳ báo cáo của Kế toán quản trị thường xuyên hơn và ngắn hơn kỳ báo cáo của Kế toán tài chính. Báo cáo của Kế toán tài chính được soạn thảo theo định kỳ, thường là hàng năm, còn báo cáo của Kế toán quản trị được soạn thảo thường xuyên theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp.

     Mối liên hệ với các ngành khác:

Kế toán tài chính nhằm sắp xếp, ghi nhận, phân tích diễn đạt những sự kiện kinh tế pháp lý đã diễn ra trong quá trình kinh doanh bằng những phương pháp của mình, do đó Kế toán tài chính ít liên quan nhiều đến các ngành học khác.

Kế toán quản trị sử dụng kiến thức của nhiều ngành học như: tài chính, toán, thống kê, tâm lý.

Related posts

Kinh nghiệm đầu tư quỹ mở của nhà đầu tư thành công

Trần Huyền Anh

Chia sẻ kinh nghiệm nhập hàng Trung Quốc về kinh doanh

Trần Huyền Anh

Lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm trong tháng 1 năm 2018

Trần Huyền Anh

Leave a Comment